Kỹ thuật nuôi tôm vỗ tôm bố mẹ cho đẻ (Phần 2)

0
420
Tiếp theo phần 1

3.2 Cắt mắt:
3.2.1 Nguyên lý:

Ở giáp xác mười chân (Decapoda) tiếp giáp giữa cầu mắt và cuống mắt của chúng có cơ quan X và tuyến sinus tiết ra MIH (Molt Inhibiting Hormone) ức chế lột xác và GIH (Gonad Inhibiting Hormone) ức chế thành thục sinh dục. Cơ quan Y nằm ở gốc chân hàm lớn, sản xuất Ecdysone (Hocmon lột xác)

Trong điều kiện bình thường MIH kìm mãm lột xác và GIH kìm hãm thành thục sinh dục. Khi những yếu tố sinh lý và môi trường có lợi cho việc tái sản xuất, hoạt động MIH và GIH giảm do đó sự lột xác hoặc thành thục sinh dục xảy ra dưới tác động của Ecdysone và GSH (Gonad Stymulating). GSH được phóng thích từ hạch ngực và hạch não của hệ thần kinh.

Như vậy khi cắt mắt (phá hủy cơ quan X và tuyến sinus) sẽ làm giảm lượng MIH và GIH. Khi đó tôm sẽ nhanh chóng thành thục sinh dục hoặc lột xác.

3.2.2. Các phương pháp cắt mắt:

– Dùng dao lam xẻ đầu mắt
– Dùng chỉ buộc
– Dùng kẹp nóng kẹp cuống mắt
– Dùng kéo cắt

* Chú ý: Chỉ cắt mắt khi tôm mẹ khỏe mạnh, không bệnh. Tất cả các thao tác phải nhanh, chính xác. Trong quá trình cắt mắt tôm được để trong nước.

3.3 Quản lý chăm sóc:
3.3.1 Điều kiện môi trường nuôi tôm bố mẹ:

Độ mặn : 28 – 34%
Nhiệt độ : 28 – 30 độ C Oxy hòa tan 4-7mg/lít
pH : 7,6-8,2 Giữ môi trường ổn định

3.3.2 Mật độ và tỷ lệ đực/cái:

Bố trí mật độ hợp lý để tránh ô nhiễm, bệnh tật cũng như tiết kiệm được chi phí chăm sóc và tỷ lệ giao vỹ đạt cao. Bể nuôi vỗ bố trí mật độ 3-5 con cái/m2. Bể giao vỹ 2-4 con/m2 (tỷ lệ đực/cái là 1/1). Thường xuyên kiểm tra chọn những cá thể cái đang ở giai đoạn tiền lột xác chuyển sang bể giao vỹ.

3.3.3 thức ăn và chế độ cho ăn:

Thức ăn là yếu tố rất quan trọng nhằm nâng cao tỷ lệ thành thục, chất lượng buồng trứng và chất lượng ấu trùng. Phối hợp nhiều loại thức ăn trong khẩu phần để đảm bảo dinh dưỡng cũng như phù hợp tập tính ăn của từng cá thể.

Loại thức ăn: Thức ăn tổng hợp, mực ống, hàu, nghêu, trai, giun biển, ốc càng và thịt bò.

Ngày cho ăn 3 lần: 8 giờ sáng, 17h chiều và 23 giờ đêm.

Lượng cho ăn hàng ngày bằng 10-15% tổng trọng lượng cơ thể đàn tôm mẹ trong thời kỳ phát dục. Bằng 3-5% tổng trọng lượng cơ thể tôm mẹ trong giai đoạn lột xác.
3.3.4 Thay nước:

Hàng ngày thay nước 2 lần, mỗi lần 100%, bảo đảm nguồn nước nuôi đưuọc sạch. Cân bằng độ mặn và nhiệt độ giữa nước cấp và nước trong bể nuôi.

3.3.5 Cho đẻ:

Kiểm tra tôm mẽ hằng ngày vào 7h tối, nếu phát hiện tôm mang trứng ở giai đoạn III, IV thì chuyển ngay tôm mẹ sang bể cho đẻ.

Thời gian đẻ của cá thể đầu và cuối trong cùng 1 bể không quá 2 tiếng.

Mật độ trứng khoảng 1.000.000 trứng/m3

Tôm thường đẻ vào ban đêm, khoảng 8 giờ tối – 3h sáng. Tôm sú chuẩn bị đẻ, màu sắc sậm lại sau đó bơi lên mặt nước nghiên mình và đẻ trứng. Khi tôm đẻ 3 đôi chân sau chụm lại duỗi về sau, cơ cử động nhịp nhàng giúp quá trình đẻ trứng và phóng tinh. Các đôi chân bơi cử động mạnh giúp tôm mẹ bơi về phía trước cho trứng thụ tinh và phân tán ra. Quá trình đẻ có thể liên tục hoặc gián đoạn.

* Đánh giá chất lượng đẻ:
Tốt Mùi tanh ít Bọt ít và nhỏ Trứng rời Có màng thụ tinh Sau đẻ 30 phút có phân cắt 2 tế bào Xấu Mùi tanh Bọt nhiều và có nhớt Trứng vón Ít màng thụ tinh Sau đẻ 30 phút đa số trứng không phân cắt, trứng vỡ nhiều.

3.3.6 Thu ấu trùng (Nauplius)

Tại bể ấp, sau khi đẻ từ 13-15h trứng nở thành ấu trùng. Khi chuyển sang ấu trùng 3-4, tắt sục khí treo đèn, ấu trùng hướng quang nổi lên mặt nước. Ta dùng vợt thu ấu trùng vớt ra thùng, sau khi thu xong ấu trùng tiến hành định lượng, rửa sạch và chuyển đến trại ương nuôi.

Tiêu chuẩn ấu trùng có chất lượng tốt: Hướng quang mạnh, Các phụ bộ đủ và thẳng, Không dị dạng, Màu sắc xám sáng

Trích Tài liệu kỹ thuật

Share Button